Thực trạng chăm sóc người bệnh theo mô hình đội của bác sĩ và điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thế, tình Bắc Giang năm 2018

 06/10/2019       13:31

PHÙNG THỊ LAN HƯƠNG, ĐỖ CHÍ HÙNG, NGUYỄN MAI ANH

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh theo mô hình đội của bác sĩ và điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thế năm 2018. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích thông qua phương pháp định lượng từ tháng 3 đến tháng 6/2018. Với cỡ mẫu toàn bộ là 11 đội chăm sóc thuộc 6 khoa lâm sàng, trong đó có 25 bác sĩ, 11 điều dưỡng đội trưởng, 35 điều dưỡng viên. Kết quả: Tổ chức của mô hình đội chăm sóc Khoa truyền nhiễm có số đội ít nhất là 1; khoa nội tổng hợp có số điều dưỡng và bác sĩ cao nhất (8, 5) và tỷ lệ ĐD/BS là 1,6 nhưng tỷ lệ ĐD/GB thì khoa HSTC cao nhất là 0,35. Hoạt động báo cáo tình hình người bệnh khi đi buồng đội chăm sóc, trong 4 nội dung thì nội dung đi buồng, phối hợp giữa các thành viên và đánh giá chung mức độ đạt cao như nhau là 72,7%. Về cơ cấu tồ chức thấp nhất là 63,4%. Hoạt động thực hiện nhiệm vụ của cán bộ y tế trong đội chăm sóc của bác sĩ mức độ đạt cao nhất là 80% còn điều dưỡng là thấp nhất (68,6%>). Kết luận: Về tỗ chức của mô hình đội chăm sóc tại bệnh viện đa khoa Yên Thế chiếm tỷ lệ cao khoa truyền nhiễm có số đội ít nhất là 1; khoa nội tổng hợp có số điều dưỡng và bác sĩ cao nhất (8, 5) và tỷ lệ ĐD/BS là 1,6 nhưng tỷ lệ ĐD/GB thì khoa HSTC cao nhất là 0,35. Hoạt động báo cáo tình hình người bệnh khi đi buồng đội chăm sóc 4 nội dung công tác đạt tỷ lệ cao 63,4% đến 72,7%. về hoạt động thực hiện nhiệm vụ của cán bộ y tế trong đội chăm sóc của bác sĩ là 80%) còn điều dưỡng là 68,6%.

Từ khóa: đội chăm sóc người bệnh, Bệnh viện Đa khoa Yên Thế tỉnh Bắc Giang SUMMARY

SITUATION OF THE MODEL OF THE CARING TEAM FOR PATIENTS AT YEN THE GENERAL HOSPITAL, BAC GIANG PROVINCE IN 2018

Objective: To evaluate the implementation effect of caring team for patients at Yen The General hospital, Bac Giang province in 2018. Method: With a total sample size of 11 care teams in 6 clinical departments, 25 physicians, 11 nursing supervisors, 35 nurses. Results: The department of infectious disease has at least 1 team; the department of Internal medicine has the highest number of nurses and doctors (8, 5) and the rate of nurses/doctors is 1.6, but the rate of nurses/inpatiens is the highest 0.35. Reporting on the situation of patients in the care team, in four contents, the content of the chamber, the coordination among members and the general assessment of the same high level of 72.7%. The lowest organizational structure is 63.4%). The highest level of attainment of health care staff in the care team was 80%) while nursing was the lowest (68.6%). Conclusion: Regarding the organization of the care team model in Yen The general hospital, accounting for at least 1 team; Internal medicine has the highest number of nurses and doctors (8, 5) and the rate of nurses/ doctors is 1.6, but the rate of nurses/lnpatiens is the highest 0.35. Reported the situation of patients in the care team in 4 contents of work achieved a high rate of 63.4%) to 72.7%). About 80% of health workers in the care team are doctors and 68.6%) are nurses.

Key words: patient’s caring team, Yen The general hospital of Bac Giang province

1. Đặt vấn đề

    Vào những năm 1950, mô hình chăm sóc người bệnh (CSNB) theo đội được áp dụng phổ biến ở Mỹ và các nước châu Âu. Đội CSNB gồm nhiều thành viên với các chuyên ngành khác nhau như: điều dưỡng, bác sĩ, kỹ thuật viên phục hồi chức năng (KTV PHCN), bác sĩ tâm thần, dược sĩ, nhà tâm lý học, sinh viên, nhân viên xã hội và người bệnh. Mô hình có tính đồng đội cao, nhờ đó cán bộ nhân viên trong khoa bám sát được bệnh tình của người bệnh, hoạt động chăm sóc bệnh nhân được giám sát tốt [1][6] [7].

    Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang luôn xác định việc nâng cao chất lượng công tác CSNB là một mục tiêu cốt lõi để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Từ năm 2010, với sự hỗ trợ chuyển giao từ Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí về triển khai mô hình chăm sóc người bệnh theo đội, hiện Bệnh viện có 11 đội chăm sóc tại 06 khoa lâm sàng. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về hoạt động của đội chăm sóc, tiếp tục hoàn thiện mô hình và cải thiện công tác CSNB toàn diện tại bệnh viện. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu: Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh theo mô hình đội của bác sĩ và điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thế năm 2018

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

    11 đội chăm sóc thuộc 6 khoa lâm sàng, trong đó có 25 bác sĩ, 11 điều dưỡng đội trưởng, 35 điều
dưỡng viên tham gia hoạt động CSNB theo đội tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2018

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Trong đó giai đoạn định lượng là chủ đạo và được thực hiện trước. Sau khi có kết quả sơ bộ từ số liệu định lượng, nghiên cứu định tính được tiến hành để làm rõ hơn các kết quả thu được từ phần định lượng về các yếu tố liên quan đến việc thực hiện mô hình CSNB

2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu chủ đích, gồm có 25 bác sĩ, 11 điều dưỡng đội trưởng, 35 điều dưỡng viên tham gia hoạt động CSNB theo đội tham gia vào nghiên cứu định lượng.

2.2.3. Công cụ nghiên cứu

Sử dụng các bộ câu hỏi phát vấn điều dưỡng viên được xây dựng dựa trên nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh được quy định tại Thông tư 07/2011/TT - BYT của Bộ Y tế về việc “Hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” và Quy định của Bệnh viện về chăm sóc người bệnh theo đội. Phỏng vấn được tiến hành ngay sau khi đối tượng tham gia hoạt động chăm sóc người bệnh theo đội

2.3. Phương pháp thu thập số liệu: Bộ câu hỏi phát vẩn và bảng kiểm

2.4. Phương pháp xử lý số liệu: Nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 18.0.

3. Kết quả

3.1. Tổ chức của mô hình đội chăm sóc

Bảng 3.1: Số giường bệnh (GB), số đội chăm sóc và nhân viên trong đội của các khoa lâm sàng

TT

Khoa

Số GB

Số đội

SỐĐDV

Sổ BS

Tỷ lệ ĐDV/GB

Tỷ lệ ĐDV/BS

1

CC - HSTC - CĐ

17

2

6

4

0,35

1,5

2

Nội TH

35

2

8

5

0,23

1,6

3

Truyền nhiễm

10

1

2

2

0,2

1,0

4

Nhi

34

2

6

5

0,18

1,2

5

Phụ - Sản

32

2

7

5

0,22

1,4

6

Ngoại TH

24

2

6

4

0,25

1,5

Nhận xét: Khoa truyền nhiễm có số đội ít nhất là 1; khoa nội tổng hợp có số điều dưỡng và bác sĩ cao nhất (8, 5) và tỷ lệ ĐD/BS là 1,6 nhưng tỷ lệ ĐD/GB thì khoa HSTC cao nhát là 0,35

3.2. Hoạt động báo cáo tình hình người bệnh khi đi buồng đội chăm sóc

Bảng 3.2: Kết quả công tác đi buồng đội chăm sóc (n=11)

Nội dung đánh giá

Tần số

Tỷ lệ

Cơ cấu, tổ chức đi buồng

Đạt

7

63,6

Chưa đạt

4

36,4

X ±SD

3,45±0,82

Nội dung đi buồng

Đạt

8

72,7

Chưa đạt

3

27,3

X ±SD

8,64+2,11

Sự phối hợp giữa các thành viên

Đạt

8

72,7

Chưa đạt

3

27,3

X ±SD

4,64±1,12

Đánh giá chung về công tác đi buồng đội

Đạt

8

72,7

Chưa đạt

3

27,3

X ±SD

16,73±3,13

Nhận xét: Trong 4 nội dung công tác thì nội dung đi buồng, phối hợp giữa các thành viên và đánh giá chung mức độ đạt cao như nhau là 72,7%. Về cơ cấu tổ chức thấp nhất là 63,4%.

Bảng 3.3: Kết quả hoạt động giao ban điều dưỡng (n=6)

Nội dung

Tần số

Tỷ lệ

Đánh giá chung về hoạt động giao ban điều dưỡng

Đạt

5

83,3

Chưa đạt

1

16,7

X ±SD

9,5±0,84

Nhận xét: Hoạt động giao ban điều dưỡng đạt 83,3% yêu cầu so với quy định (điểm trung bình là 9,5/12).

3.3. Hoạt động thực hiện nhiệm vụ của cán bộ y tế trong đội chăm sóc

Bảng 3.4: Kết quả thực hiện nhiệm vụ của CBYT trong đội chăm sóc

Nội dung Tần số Tỷ lệ
Đánh giá thưc hiện nhiệm vụ của bác sĩ (n=35) Đạt 28 80,0
Chưa đạt 7 20,0
X ±SD 9,4+1,63
Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của ĐD đội trưởng (n=35) Đạt 24 68,6
Chưa đạt 11 31,4
X ±SD 8,6±1,19
Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của ĐDV (n=31) Đạt 22 71,0
Chưa đạt 9 29,0
X ±SD 12,9±1,60

Nhận xét: Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của bác sĩ mức độ đạt cao nhất là 80%; việc thực hiện nhiệm vụ của đội đối với điều dưỡng là thấp nhất 68,6%)

4. Bàn luận

4.1. Tổ chức của mô hình và đội chăm sóc

    Việc tổ chức thực hiện đi buồng có ý nghĩa trong việc đảm bảo các BS và ĐD đều có mặt để chia sẻ, giao và nhận thông tin của người bệnh. Kết quả quan sát cơ cấu, tổ chức đi buồng của 11 đội chăm sóc tại bệnh viện cho thấy tất cả các đội chăm sóc có đầy đủ thành viên đi buồng và thời gian đi buồng đạt yêu cầu 100%. Tuy nhiên trong nghiên cứu này còn 27,3% ĐD trưởng điều hành buổi đi buồng. Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Thảo tại bệnh viện Uông Bí năm 2013 (5,6%). Điều này có thể cho thấy, bệnh viện Uông Bí so với bệnh viện Yên Thế có quy mô lớn hơn, số lượng đội chăm sóc nhiều hơn do đó nhân lực về điều dưỡng nhiều hơn nên công việc chăm sóc người bệnh sẽ được tiến hành nhanh và tốt hơn. Nghiên cứu tại bệnh viện Uông Bí cũng cho thấy họ có các lớp tập huấn cho ĐD đội trưởng về quản lý điều dưỡng và về kiến thức CSNB đều đặn 2 lần/ năm còn ở bệnh viện Yên Thế thi chưa được thường xuyên [5].

4.2. Hoạt động báo cáo tình hình người bệnh khi đi buồng đội chăm sóc

Nội dung đi buồng là phần quan trọng nhất trong buổi đi buồng của đội chăm sóc. Các BS, ĐD, học viên và cả NB và NNNB được nghe thông tin báo cáo về NB từ ĐD phụ trách. Qua quan sát cho thấy ĐD báo cáo khá đầy đủ các thông tin hành chính và diễn biến bệnh, xử trí, chăm sóc với tỷ lệ 100%. Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Thảo. Các nội dung về báo cáo tình hình bài tiết, ăn uống chỉ đạt 63,6% và 72,7%. Tỷ lệ này thấp hợn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạ (2011) ở Bắc Giang. Có sự khác biệt này có thể là do nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạ triển khai tại các bệnh viện trên toàn tỉnh Bắc Giang còn bệnh viện Yên Thế chỉ là một bệnh viện tuyến huyện triển khai từ năm 2009 cho nên ĐD chưa có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng báo cáo chưa bằng các ĐD ở bệnh viện tuyến trên [3].

Việc thảo luận thực hiện KHCS, xây dựng KHCS, phân cấp chăm sóc cho NB có tầm quan trọng đặc biệt để đưa ra những quyết định đúng trong chăm sóc điều trị cho NB. Với các nhiệm vụ này, các đội chăm sóc đã thực hiện tương đối tốt về việc xây dựng KHCS với tỷ lệ đạt yêu cầu 90,1% cao hơn hẳn nghiên cứu của Đặng Thị Ly (44,4%) và Trần Thị Thảo (88,3%) [4][5]. Tuy nhiên hơn một nửa (54,5%) các đội chăm sóc chưa đạt yêu cầu về việc thảo luận phân cấp CSNB khi đi buồng. Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Thảo. Điều này chứng tỏ bệnh viện đã thực hiện nhưng chưa tốt nội dung của khoản 2, điều 13 thông tư 07 ngày 26/11/2011 về hướng dẫn công tác chăm sóc người bệnh trong bệnh viện cùa Bộ Y tế [2]

4.3. Hoạt động thực hiện nhiệm vụ của cán bộ y tế trong đội chăm sóc

    Việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên là BS, ĐD đội trưởng và ĐDV có vai trò quan trọng liên quan đến kết quả CSNB của đội. Đánh giá chung việc thực hiện nhiệm vụ của BS theo ý kiến của ĐD thì đa số BS đạt yêu cầu trong việc thực hiện nhiệm vụ (80%). Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Thảo tại bệnh viện Uông Bí [5], Lý giải về điều này có thể bệnh viện Uông Bí là bệnh viện tuyến TƯ và có thời gian thực hiện chăm sóc theo đội nhiều hơn các bệnh viện tuyến huyện do đó trình độ chuyên môn, kinh nghiệm của BS cũng tốt hơn. Bên cạnh đó, đánh giá chung việc thực hiện nhiệm vụ của ĐD trưởng và ĐD thì chỉ đạt 68,6% và 71%. Tỷ lệ này so với các nghiên cứu của Trần Thị Thảo, Nguyễn Thị Hạ đều thấp hơn. Điều này có thể do bệnh viện Yên Thế số lượng ĐD còn thiếu, ý thức trách nhiệm chưa cao [4] [5]

5. Kết luận

    Bệnh viện có tổng số 11 đội chăm sóc trong 6 khoa lâm sàng thuộc các khoa Nội, ngoại, sản, nhi, truyền nhiễm và cấp cứu. Về hoạt động báo cáo khi đi buồng chăm sóc: cơ cấu tổ chức đi buồng đạt tỷ lệ 63,6% (điểm trung bình đạt 3,45/4); nội dung đi buồng và sự phối hợp với các thành viên trong đội tỷ lệ đạt yêu cầu là 72,7% (điểm trung binh lần lượt là 8,64/11 và 4,64/6). Đánh giá chung về hoạt động đi buồng đội của các đội chăm sóc đạt 72,7%.về hoạt động thực hiện nhiệm vụ của CBYT: 80% bác sĩ đã thực hiện các nhiệm vụ của đội ở mức độ đạt yêu cầu (điểm trung bình 9,4/12). ĐD trưởng và ĐDV thì tỷ lệ đạt yêu cầu thấp hơn với tỷ lệ lần lượt là 68,6% (điểm trung bình 8,6/10) và 71,0% (điểm trung bình 12,9/15).

KHUYẾN NGHỊ

ĐD trưởng, ĐDV, BS trong đội chăm sóc cần tích cực thảo luận kế hoạch chăm sóc, phân cấp CSNB khi đi buồng đội. Thường xuyên học tập, nâng cao nhận thức về CSNB theo đội và chuyên môn, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong CSNB

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Y tế (2004), Các mô hình phân công chăm sóc, Tài liệu quản lý điều dưỡng, Nhà xuất bản học, Hà Nội, tr. 178 - 184.

2. Bộ Y tế (2011), Thông tư 07/2011/TT - BYT “Hướng dẫn công tác Điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” ngày 26/01/2011, Hà Nội.

3. Nguyễn Thị Hạ (2011), Đánh giá hiệu quả mô hình chăm sóc người bệnh toàn diện theo đội tại các bệnh viện công lập tỉnh Bắc Giang năm 2011, Bắc Giang.

4. Đặng Thị Ly và cộng sự (2010), Đánh giá thực trạng hoạt động đội chăm sóc tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2010, Hội nghị khoa học Điều dưỡng Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2010, Uông Bí, tr. 43 - 50.

5. Trần Thị Thảo (2013), Đánh giá thực hiện mô hình chăm sóc người bệnh theo đội tại Bệnh viện Việt nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2013, Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng, trường Đại học Y tế Công cộng.

6. Kelly Scott (2010), Implications for quality of patient care, BSN Honors Research summer 2010, 60.

7. Linda Andrist, Patrice K. Nicholas, Karen Anne Wolf (2006), History of Nursing Ideas, Available from: https://books.google.com.vn/books/about/A_H istory_of_N u rsing J deas. htm


Phùng Thị Lan Hương, Đỗ Chí Hùng, Nguyễn Mai Anh

Nguồn: Tạp chí Phục hồi chức năng, Số 6 - 6/2018, Trang 25